Thursday, 03/12/2020 - 21:17|
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN - GIA LAI

TÀI LIỆU ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 12

TÀI LIỆU ÔN TẬP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TUẦN 22,23

BÀI I: RỪNG XÀ NU (Nguyễn Trung Thành)

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả

- Tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Báu. Ông sinh năm 1932, Quảng Nam, bút danh Nguyễn Trung Thành, Nguyên Ngọc.

- Là nhà văn trưởng thành trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến và gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên.

- Tác phẩm (SGK)

- Năm 2000, ông được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Tài liệu đính kèm: Tải về

TÀI LIỆU ÔN TẬP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TUẦN 22,23

 

BÀI I: RỪNG XÀ NU (Nguyễn Trung Thành)

 

I. TÌM HIỂU CHUNG:

1. Tác giả:

- Tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Báu. Ông sinh năm 1932, Quảng Nam, bút danh Nguyễn Trung Thành, Nguyên Ngọc.

- Là nhà văn trưởng thành trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến và gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên.

- Tác phẩm (SGK)

- Năm 2000, ông được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

2. Tác phẩm

a. Xuất xứ:

Rừng xà nu (1965) ra mắt lần đầu tiên trên Tạp chí văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung bộ (số 2- 1965), sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc.

b. Hoàn cảnh ra đời:

c. Tóm tắt : cần đảm bảo những chi tiết chính:

- Rừng xà nu - hình tượng mở đầu và kết thúc.

- Tnú nghỉ phép về thăm làng.

- Cụ Mết kể cho dân làng nghe về cuộc đời Tnú và lịch sử làng Xô Man từ những năm đau thương đến đồng khởi nổi dậy.

 

II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN:

1. Hình tượng rừng xà nu:

* Vị trí xuất hiện: nhan đề, đầu và cuối tác phẩm, xuất hiện trong sự đối chiếu so sánh với các nhân vật ở trong truyện.

* Nghĩa thực: Đây là một loài cây có thật ở vùng đất Tây Nguyên.

* Nghĩa biểu tượng:

- Cây xà nu trở thành một phần máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân làng Xô Man.

+ Tham dự vào những sự kiện trọng đại của dân làng Xô Man.

+ Thấm sâu vào nếp suy nghĩ và cảm xúc của họ, cụ Mết nói về cây xà nu với tất cả tình cảm yêu thương, gần gũi xen lẫn tự hào “không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”.

- Cây xà nu tượng trưng cho phẩm chất và số phận của con người Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng.

+ Vẻ đẹp rừng xà nu → tượng trưng vẻ đẹp dân làng Xô Man nói riêng và đồng bào Tây Nguyên nói chung.

+ Những thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu → tượng trưng cho những mất mát, đau thương vô bờ mà dân làng Xôman nói riêng và đồng bào Tây Nguyên nói chung.

+ Những đặc tính của xà nu … → tượng trưng sự khao khát tự do và sức sống bất diệt của dân làng Xôman nói riêng và đồng bào Tây Nguyên nói chung.

=> Những câu văn miêu tả rừng xà nu là những câu văn đẹp, gây ấn tượng giàu biện pháp NT nhân hóa, ẩn dụ, gợi vẻ đẹp mang đậm tính sử thi.

 

2. Hình tượng nhân vật Tnú :

* Tính cách, phẩm chất

- Là người gan góc, dũng cảm và mưu trí.

- Gan góc, dũng cảm ngay từ nhỏ làm giao liên, tham gia nuôi giấu cán bộ→ đến với cách mạng từ rất sớm.

+ Giặc giết bà Nhan, anh Xút nhưng Tnú (lúc bấy giờ còn nhỏ) không sợ. Tnú vẫn cùng Mai xung phong vào rừng nuôi giấu cán bộ.

+ Học chữ thua Mai, Tnú đập vỡ bảng, lấy đá đập vào đầu đến chảy máu.

+ Khi đi liên lạc không đi đường mòn mà “xé rừng mà đi”, không lội chỗ nước êm mà “lựa chỗ thác mạnh vượt băng băng như con cá kình”. Bởi theo Tnú những chỗ nguy hiểm giặc “không ngờ” đến.

+ Bị giặc phục kích bắt, bị tra tấn dã man nhưng Tnú quyết không khai. Khi bọn giặc kéo về làng, bắt Tnú khai cộng sản ở đâu anh đặt tay lên bụng dõng dạc nói “cộng sản ở đây này”.

- Tnú là người có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng

+ Tham gia lực lượng vũ trang, nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng khi được phép của cấp trên mới về thăm.

+ Lòng trung thành tuyệt đối: khi bị kẻ thù đốt mười đầu ngón tay, ngọn lửa như thiêu đốt gan ruột nhưng Tnú không kêu nửa lời, anh luôn tâm niệm lời dạy của anh Quyết : “người cộng sản không thèm kêu van”.

- Tnú có một trái tim yêu thương và sục sôi căm thù giặc: sống rất tình nghĩa và luôn mang trong tim 3 mối thù: thù của bản thân, thù của gia đình, thù của buôn làng.

*Số phận cuộc đời: Cuộc đời bi tráng, đau thương

- Cha mẹ chết sớm, được dân làng Xô Man nuôi lớn.

- Để bắt Tnú, giặc bắt và tra tấn bằng gậy sắt đến chết vợ con ngay trước mắt Tnú.→ căm thù giặc sôi sục, anh xông vào quân giặc như hổ dữ nhưng không cứu được vợ con → Bản thân cũng bị bắt, bị tra tấn: bị đốt 10 đầu ngón tay bị đốt bằng nhựa xà nu.→ tấn bi kịch đau thương

- Câu nói "Tnú không cứu được vợ con"- cụ Mết nhắc tới 4 lần → như một điệp khúc day dứt, đau thương trong câu chuyện kể và nhằm nhấn mạnh: khi chưa có vũ khí, chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người thương yêu nhất cũng không cứu được.

- “Chúng nó đã cầm sung, mình phải cầm giáo” thì mọi thứ sẽ thay đổi hẳn.

+ Dân làng Xô Man nổi dậy cứu được Tnú, Bàn tay Tnú được chữa lành, anh vào lực lượng, tiếp tục chống giặc. →tiếp tục con đường cách mạng.

=> Cuộc đời bi tráng và con đường đến với cách mạng của Tnú điển hình cho con đường đến với CM của người dân Tây Nguyên thời chống Mĩ, góp phần làm sáng ngời chân lí thời đại: phải dung bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng ; đấu trang vũ trâng là con đường tất yếu để tự giải phóng.

* Mối quan hệ giữa 2 hình tượng xà nu và Tnú : có quan hệ khăng khít, bổ sung cho nhau.

- Rừng xà nu chỉ giữ được màu xanh bất diệt khi có những con người biết hi sinh như Tnú ;

- Sự hinh sinh của những con người như Tnú làm cho những cánh rừng mãi mãi xanh tươi.

4. Các nhân vật: cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng.

* Cụ Mết: Là thế hệ đi trước, tham gia chống giặc từ thời

- Là linh hồn của cuộc chiến đấu, là gạch nối giữa Đảng và dân làng đến với Cách mạng ; vững vàng, gan góc trong đấu tranh ; yêu thương chăm sóc thế hệ tương lai ; yêu qêu hương, tự hào về quê hương của mình…) à Cụ Mết tiêu biểu cho thế hệ già làng trong cuộc đấu tranh của dân tộc.

* Mai, Dít: là vẻ đẹp của thế hệ hiện tại (kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh).

- Bé Heng: là thế hệ tiếp nối để đưa cuộc chiến đến thắng lợi cuối cùng.

→ cuộc chiến khốc liệt đòi hỏi mỗi người phải có sức trỗi dậy mãnh liệt.

=> Họ là sự tiếp nối các thế hệ, làm nổi bật tinh thần bất khuất của dân tộc.

5. Nghệ thuật:

- Không khí màu sắc đậm chất tây Nguyên thể hiện ở bức tranh thiên nhiên, ở ngôn ngữ, tâm lí, hành động các nhân vật.

- Xây dựng thành công các nhân vật vừa có những nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu (cụ Mết, Tnú, Dít,…)

- Khắc họa thành công hình tượng cây xà nu – một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc – tạo nên màu sắc sử thi và sự lãng mạng bay bổng cho thiên truyện.

- Lời văn giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu, khi thâm trầm, khi tha thiết, trang nghiệm,…

6. Ý nghĩa văn bản

Tác phẩm ngợi ca tinh thầm bất khuất của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, đất nước, con người việt Nam nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khảng định chân lí của thời đại: để giữ gìn sự sống của đát nước và nhân dân, không có cách nào khác là phải cùng nhau cầm vũ khí đứng lên chống lại kẻ thù.

 

 

 

BÀI II: NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH (Nguyễn Thi)

 

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả

- Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam trong thời kì chống Mĩ

- Sinh ra ở miền Bắc nhưng gắn bó máu thịt với mảnh đất Nam Bộ và thực sự trở thành nhà văn của người nông dân Nam Bộ

- Có biệt tài phân tích tâm lí sắc sảo.

2. Tác phẩm

a. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác

- Truyện được hoàn thành vào tháng 2 năm 1966, , khi nhà văn công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.

- Truyện là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Thi được sáng tác trong những ngày chiến đấu ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

- In trong tập Truyện và ký

b.Tóm tắt (SGK – phần chữ nhỏ)

c. Chủ đề:

Qua hồi ức của Việt về những thành viên trong gia đình, tác giả ca ngợi tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng của một gia đình và của nhân dân miền Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

3. Đoạn trích

a. Vị trí

b. Tóm tắt: Đoạn trích là dòng suy nghĩ của Việt ở lần tỉnh dậy thứ 4:

- Sự cô đơn giữa trận địa → muốn trở về với đồng đội.

- Nhớ lại câu chuyện đêm tòng quân, bàn bạc việc nhà trước khi đi bộ đội, việc khiêng bàn thờ má.

II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

1. Truyền thống gia đình.

- Có truyền thống yêu nước và căm thù giặc sâu sắc.

- Gan góc, dũng cảm, khao khát được chiến đấu giết giặc.

- Giàu tình nghĩa, thuỷ chung son sắt với quê hương và cách mạng.

→ Truyền thống gia đình liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến đời chị em Chiến,Việt.

 

2. Nhân vật Việt:

* Có nét riêng của cậu con trai mới lớn, tính tình còn trẻ con, ngây thơ, hiếu động:

- Có dáng vẻ vụng về, lộc ngộc của một câu bé mới lớn, chỉ thích bắt ếch, bắt cá, bắn chim…

- Chiến hay nhường nhịn bao nhiêu thì Việt tranh giành phần hơn với chị bấy nhiêu

- Cách thương chị: chỉ sợ mấy anh tán mất chị.

- Trước ngày lên đường, khi bàn bạc chuyện gia đình một cách nghiêm túc:

+ Chiến lo, thu xếp chu đáo mọi việc: từ út em, nhà cửa, ruộng nương đến nơi gởi bàn thờ má

+ Việt không mấy quan tâm mà chỉ mải chụp đom đóm, cười khì khì rồi ngủ lúc nào không hay → Việt vô tư, vô lo vô nghĩ.

- Khi vào bộ đội:

+ Còn mang theo cây súng cao su

+ Ra trận không sợ chết nhưng lại sợ bóng tối, sợ ma hơn là sợ giặc.

+ Gặp lại đồng đội mừng quá, khóc òa.

* Là một chiến sĩ dũng cảm, gan dạ, kiên cường: (phẩm chất của người anh hùng)

- Còn bé tí đã dám xông vào đá cái thằng đã giết cha mình.

- Lớn lên: nhất quyết đòi đi tòng quân để trả thù cho ba má → giành với chị Chiến

+ Khi xông trận: chiến đấu rất dũng cảm, dùng pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của giặc

+ Khi bị trọng thương: một mình giữa chiến trường, mặt không nhìn thấy gì, toàn thân rã rời, chảy máu máu nhưng vẫn trong tư thế quyết chiến tiêu diệt giặc.

* Là người con luôn yêu thương và gắn bó với gia đình.

- Nối nhớ về má thường trực trong trái tim người chiến sĩ trẻ

- Nhớ lại đem trước ngày nhập ngũ: đối thoại với chị Chiến.

- Nhờ hình ảnh hai chị em khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm gửi.

3. Nhân vật Chiến:

- Có tính cách đa dạng:

+ Là một cô gái vừa mới lớn nên tính khí còn rất “trẻ con”: có lúc giành nhau với em tranh công bắt ếch, đánh tàu giặc, đi tòng quân

+ Là một người chị biết nhường nhịn em (trừ việc đi tòng quân), biết lo toan, đảm đang, tháo vát việc gia đình thay má.

- Chiến có những nét giống mẹ:

+ Mang vóc dáng của má: "hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng… thân người to và chắc nịch".

+ Đặc biệt giống má thể hiện ở cái đêm sắp xa nhà đi bộ đội: Biết lo liệu, toan tính mọi việc nhà, đảm đang, tháo vát → Việt cảm thấy chị giống y như má.

- Nét khác biệt so với người mẹ:

+ Trẻ trung, thích làm duyên làm dáng

+ Đươc trực tiếp cầm súng đánh giặc để trả thù nhà.

- Căm thù giặc sâu sắc, gan dạ : xung phong ra trận với quyết tâm : hễ giặc còn thì tao mất ,bắn cháy tàu giặc trên sông.

=> Chiến và Việt là hai “khúc sông” trong “dòng sông truyền thông” cách mạng của gia đình. Hai chị em là sự tiếp nối thế hệ chú Năm và má, song lại mang dấu ấn riêng tiêu biêu cho thế hệ trẻ miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

4. Đặc sắc nghệ thuật

- Tình huống truyện: Việt – một chiến sĩ quân giải phóng bị thương nặng trong một trận đánh, bị lạc đồng đội phải nằm lại chiến trường. Truyện được kể theo dòng ý thức của nhân vật khi liền mạch (lúc tỉnh), khi gián đoạn (lúc ngất) của người trong cuộc làm cho câu chuyện trở nên chân thật hơn; có thể thay đổi đối tượng không gian, thời gian, đan xen tự sự và trữ tình.

- Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể, giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh. Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình và đậm sắc thái Nam Bộ.

- Giọng văn chân thật, tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh.

- Khắc họa tính cách nhân vật đậm chất Nam Bộ: thẳng thắn, bộc trực, lạc quan, yêu quê hương, gia đình, thủy chung đến cùng với cách mạng, ngùn ngụt ngọn lửa căm thù giặc, ...

- Dựng đối thoại và độc thoại nội tâm hấp dẫn, cảm động.

5. Ý nghĩa văn bản

Qua câu chuyện kể về những con người trong một gđ nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thủy chung với quê hương, với cách mạng, nhà văn khảng định: Sự hòa quyện giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc VN trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 45
Hôm qua : 49
Tháng 12 : 151
Năm 2020 : 74.352